Trang hạn chế sửa đổi (bán khóa)

Phạm Minh Chính

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Phạm Minh Chính
2021 Pham Minh Chinh.png
Ảnh Phạm Minh Chính năm 2021.
Chức vụ
Nhiệm kỳ5 tháng 4 năm 2021 – nay
&-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 năm, &0000000000000025.00000025 ngày
Tiền nhiệmNguyễn Xuân Phúc
Kế nhiệmđương nhiệm
Vị trí Việt Nam
Phó Thủ tướngTrương Hòa Bình (thường trực)
Phạm Bình Minh
Vũ Đức Đam
Lê Minh Khái
Lê Văn Thành
Nhiệm kỳ8 tháng 4 năm 2021 – nay
&-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 năm, &0000000000000022.00000022 ngày
Chủ tịchNguyễn Xuân Phúc
Tiền nhiệmNguyễn Xuân Phúc
Kế nhiệmđương nhiệm
Nhiệm kỳ5 tháng 2 năm 2016 – 8 tháng 4 năm 2021
&0000000000000005.0000005 năm, &0000000000000062.00000062 ngày
Tổng Bí thưNguyễn Phú Trọng
Tiền nhiệmTô Huy Rứa
Kế nhiệmTrương Thị Mai
Phó Trưởng banNguyễn Thanh Bình (thường trực)
Trần Văn Túy
Hà Ban
Mai Văn Chính
Lê Vĩnh Tân
Nguyễn Quang Dương
Hoàng Đăng Quang
Nguyễn Thị Thanh
Phạm Thị Thanh Trà
Nhiệm kỳ4 tháng 2 năm 2016 – 31 tháng 1 năm 2021
&0000000000000004.0000004 năm, &0000000000000362.000000362 ngày
Thường trực Ban Bí thưĐinh Thế Huynh
Trần Quốc Vượng
Communist Party of Vietnam flag logo.svg Ủy viên Bộ Chính trị khóa XII, XIII
Nhiệm kỳ27 tháng 1 năm 2016 – nay
&0000000000000005.0000005 năm, &0000000000000093.00000093 ngày
Tổng Bí thưNguyễn Phú Trọng
Tiền nhiệmTô Huy Rứa
Kế nhiệmđương nhiệm
Nhiệm kỳ9 tháng 4 năm 2015 – 5 tháng 2 năm 2016
&-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 năm, &0000000000000302.000000302 ngày
Trưởng banTô Huy Rứa
Nhiệm kỳ8 tháng 8 năm 2011 – 9 tháng 4 năm 2015
&0000000000000003.0000003 năm, &0000000000000244.000000244 ngày
Tổng Bí thưNguyễn Phú Trọng
Tiền nhiệmVũ Đức Đam
Kế nhiệmNguyễn Văn Đọc
Phó Bí thưNguyễn Đức Long
Đỗ Thị Hoàng
Nguyễn Văn Đọc
Vũ Hồng Thanh
Communist Party of Vietnam flag logo.svg Ủy viên Trung ương Đảng khóa XI, XII, XIII
Nhiệm kỳ18 tháng 1 năm 2011 – nay
&0000000000000010.00000010 năm, &0000000000000102.000000102 ngày
Tổng Bí thưNguyễn Phú Trọng
Kế nhiệmđương nhiệm
Nhiệm kỳtháng 8 năm 2010 – tháng 8 năm 2011
Bộ trưởngLê Hồng Anh
Nhiệm kỳtháng 2 năm 2010 – tháng 8 năm 2010
Bộ trưởngLê Hồng Anh
Tiền nhiệmCao Ngọc Oánh
Kế nhiệmLê Văn Minh
Nhiệm kỳ22 tháng 5 năm 2016 – nay
&0000000000000004.0000004 năm, &0000000000000343.000000343 ngày
Chủ tịch Quốc hộiNguyễn Thị Kim Ngân
Vương Đình Huệ
Kế nhiệmđương nhiệm
Đại diệnQuảng Ninh
Số phiếu321.908 phiếu
Tỉ lệ91,06%
Thông tin chung
Quốc tịch Việt Nam
Sinh10 tháng 12, 1958 (62 tuổi)
Hoa Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Nghề nghiệpChính trị gia
Dân tộcKinh
Tôn giáoKhông
Đảng pháiFlag of the Communist Party of Vietnam.svg Đảng Cộng sản Việt Nam
Gia quyếnPhạm Trí Thức (em trai)
Phạm Thị Thanh (em gái)
Học vấnPhó Giáo sư
Kĩ sư Xây dựng
Tiến sĩ Luật
Cao cấp lí luận chính trị
Học sinh trườngTrường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội
Đại học Xây dựng Bucarest
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Binh nghiệp
Phục vụCongAnHieu.jpg Công an nhân dân Việt Nam
Cấp bậcCấp hiệu Trung tướng Công an.png Trung tướng
Khen thưởngVietnam Labor Order ribbon.png Huân chương Lao động hạng Nhì, hạng Ba
Huan chuong quan cong.png Huân chương Quân công hạng Ba
Vietnam Feat Order ribbon.png Huân chương Chiến công hạng Hai
Huan chuong chien si ve vang3.png Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất

Phạm Minh Chính (sinh ngày 10 tháng 12 năm 1958) là một lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Nhà nước, tướng lĩnh Công an nhân dânchính trị gia người Việt Nam. Ông hiện là Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh Việt Nam, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIII, Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIV. Ông là Ủy viên Bộ Chính trị khóa XII, nguyên là Trưởng ban Tổ chức Trung ương, Bí thư Trung ương Đảng khóa XII, Trưởng Tiểu ban Bảo vệ Chính trị Nội bộ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương; Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Quảng Ninh; Thứ trưởng Bộ Công an, Tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật, Bộ Công an; Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo.[1]

Phạm Minh Chính là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, học hàm Phó Giáo sư, học vị Kỹ sư Xây dựng, Tiến sĩ Luật, Cao cấp lý luận chính trị, cấp hàm Trung tướng Công an nhân dân Việt Nam. Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 2011, khóa XI, XII, XIII. Trong sự nghiệp của mình, ông đã trải qua nhiều vị trí công tác, xuyên suốt các lĩnh vực hoạt động từ ngoại giao xã hội chủ nghĩa, công an nhân dân, giáo dục luật học, tham gia phương diện chính trị địa phương cho đến trung ương trước khi trở thành lãnh đạo hành pháp của Chính phủ Việt Nam của thời kỳ mới.

Xuất thân và giáo dục

Phạm Minh Chính sinh ngày 10 tháng 12 năm 1958 tại xóm Hoa Trường, xã Hoa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong một gia đình tám anh chị em. Cha ông là một cán bộ, công chức địa phương, mẹ làm ruộng.[2] Năm 1963, ông theo gia đình về xây dựng Vùng Kinh tế mới tại thị trấn Phong Sơn, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Thuở nhỏ, ông theo học trung học tại Trường Phổ thông Cấp 3 Cẩm Thủy,[Ghi chú 1] tỉnh Thanh Hóa.[3]

Sau khi tốt nghiệp Trung học năm 1975, ông theo học dự bị Ngoại ngữ tại Đại học Ngoại ngữ Hà Nội.[Ghi chú 2] Năm 1976, ông được cử làm lưu học sinh tại Bucharest, România, trong thời kỳ nước Đông Âu Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa România. Ông học tiếng România và nhập học chuyên ngành Xây dựng tại Đại học Xây dựng Bucharest (UTCB), đến năm 1984, ông tốt nghiệp Kỹ sư Xây dựng. Năm 2000, ông bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ Luật, trở thành Tiến sĩ Luật. Ngày 09 tháng 03 năm 2010, được Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước phong học hàm Phó Giáo sư chuyên ngành Luật.[4]

Phạm Minh Chính được kết nạp Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 25 tháng 12 năm 1986, trở thành đảng viên chính thức vào ngày 25 tháng 12 năm 1987. Trong quá trình hoạt động Đảng và Nhà nước, ông theo học các khóa tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, nhận bằng Cao cấp lý luận chính trị.[5]

Sự nghiệp

Công an nhân dân

Thời kỳ đầu

Năm 1984, Phạm Minh Chính tốt nghiệp đại học ở România, trở về nước, bắt đầu sự nghiệp của mình. Ông được phân công làm Nghiên cứu viên Khoa học tại Cục Nghiên cứu Khoa học, Kinh tế và Kỹ thuật, Bộ Nội vụ.[Ghi chú 3] Đến năm 1989, ông được điều động sang công tác tại Bộ Ngoại giao, làm Bí thư thứ nhất tại Đại sứ quán Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tại România.[6] Đây là thời điểm mà Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa România và cả xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, ông công tác ở Đại sứ quán với nhiệm vụ trực tiếp xem xét, đánh giá sự biến chuyển của các nước Đông Âu, phục vụ cho đường lối của Việt nam trong thời kỳ này.[5]

Năm 1996, ông được điều trở lại Việt Nam, công tác tại Bộ Nội vụ, chuyển thể thành Bộ Công an năm 1998. Ông lần lượt đảm nhiệm các chức vụ Thư ký Tổng hợp Văn phòng Bộ Công an; Phó Cục trưởng phụ trách Cục rồi Cục trưởng Cục Tình báo Kinh tế và Khoa học kỹ thuật Bộ Công an. Năm 2006, Phạm Minh Chính được bổ nhiệm làm Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Tình báo Bộ Công an. Những năm này, ông còn kiêm nhiệm vị trí Chuyên viên Cấp cao Văn phòng Chính phủ, là giảng viên đại học, giảng dạy tại các trường công an như Học viện An ninh nhân dân.

Lãnh đạo công an

Ngày 25 tháng 04 năm 2007, Phạm Minh Chính được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng phong quân hàm Thiếu tướng Công an nhân dân.[7] Đến tháng 12 năm 2009, ông được Bộ trưởng Bộ Công an Lê Hồng Anh giao nhiệm vụ Phụ trách Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật, Bộ Công an. Ngày 03 tháng 02 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng quyết định bổ nhiệm ông giữ chức Tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật, Bộ Công an.[8] Trong cùng năm, ngày 16 tháng 07 năm 2010, ông được Thủ tướng Chính phủ quyết định thăng cấp bậc hàm từ Thiếu tướng lên Trung tướng Công an nhân dân Việt Nam. Phạm Minh Chính có lịch sử thăng cấp hàm bậc tướng Thiếu tướng, Trung tướng đều cùng các đợt với Tô Lâm. Ngày 12 tháng 08 năm 2010, ông được Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Công an Việt Nam.[9]

Địa phương

Ngày 18 tháng 01 năm 2011, tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam XI, Phạm Minh Chính được bầu làm Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI nhiệm kì 2011 – 2016.[10][11] Ngày 8 tháng 8 năm 2011, ông được Bộ Chính trị điều chuyển về công tác ở tỉnh Quảng Ninh, miễn nhiệm chức vụ Thứ trưởng Bộ Công an Việt Nam, tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, bổ nhiệm làm Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Quảng Ninh, Bí thư Đảng ủy Quân sự tỉnh Quảng Ninh, kế nhiệm Vũ Đức Đam.[12] Ông lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh những năm 2011 – 2015, mục tiêu phát triển kinh tế tỉnh vùng biển. Trong giai đoạn này, ông là người tiên phong đề ra định hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ nâu sang xanh của tỉnh Quảng Ninh. Định hướng này được xem là đã mang lại nhiều thành công trong chiến lược phát triển, góp phần giúp Quảng Ninh thay đổi diện mạo nhanh chóng, đặc biệt đã làm giảm mạnh tình trạng ô nhiễm môi trường do khai thác than.[13]

Đại biểu Quốc hội

Phạm Minh Chính trúng cử Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIV nhiệm kì 2016 – 2021 từ tỉnh Quảng Ninh vào ngày 22 tháng 05 năm 2016 ở đơn vị bầu cử số 01 tỉnh Quảng Ninh gồm thành phố Hạ Long, thành phố Cẩm Phả, được 321.908 phiếu, đạt tỷ lệ 91,64% số phiếu hợp lệ.[14] Ông lần đầu được Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam giới thiệu ứng cử và đã trúng cử, thuộc Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ninh.[Ghi chú 4]

Trung ương Đảng

Chức trách

Phạm Minh Chính tiếp đón Thủ tướng Abe Shinzō năm 2017.

Ngày 09 tháng 04 năm 2015, Phạm Minh Chính được Bộ Chính trị điều động về công tác ở Trung ương, phân công giữ chức Phó Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 26 tháng 01 năm 2016, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII.[15] Ngày 27 tháng 01 năm 2016, ông được Ban Chấp hành Trung ương khóa XII bầu vào Bộ Chính trị Trung ương, là Ủy viên Bộ Chính trị khóa XII.[16] Ngày 4 tháng 2 năm 2016, ông được Bộ Chính trị phân công tham gia Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.[17][18] Ngày 05 tháng 02 năm 2016, ông được Bộ Chính trị phân công giữ chức Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Trưởng tiểu Ban Bảo vệ Chính trị Nội bộ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.[19]

Phạm Minh Chính cũng là Ủy viên Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII. Ngày 20 tháng 01 năm 2018, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc quyết định bổ nhiệm ông làm Phó Trưởng Ban chỉ đạo xây dựng đặc khu kinh tế Việt Nam. Đến ngày 06 tháng 10 năm 2018, tại Hội nghị Trung ương lần thứ tám, khóa XII, Phạm Minh Chính được phân công làm Trưởng Tiểu ban Điều lệ Đảng để chuẩn bị Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đến ngày 30 tháng 01 năm 2021, tại phiên bầu cử Trung ương, ông được bầu làm Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XIII.[20] Ngày 31, tại phiên họp đầu tiên của Trung ương Đảng khóa XIII, ông được bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIII.[21] Đến ngày 08 thán 04 năm 2021, sau khi được bầu làm Thủ tướng Chính phủ, ông được thôi chức Trưởng ban Tổ chức Trung ương, Trưởng Tiểu ban Bảo vệ Chính trị Nội bộ Trung ương, được kế nhiệm bởi Trương Thị Mai.[22]

Hoạt động chính trị

Phạm Minh Chính gặp gỡ Thủ tướng Nhật Bản Suga Yoshihide trong chuyến thăm cuối năm 2020.

Trong giai đoạn đảm nhiệm chức vị Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phạm Minh Chính phụ trách chủ trương và các chính sách lớn thuộc lĩnh vực tổ chức cán bộ, bố trí nhân sự của hệ thống chính trị; đồng thời là lãnh đạo chuyên môn nghiệp vụ về công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên của Trung ương.[23] Ở trong nước, ông chỉ huy nhân sự nội bộ Đảng, điều động, bổ nhiệm, điều chuyển, xây dựng các chức trách cấp cao của cán bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tại 63 tỉnh thành. Giai đoạn 2020 – 2021 trong chu kỳ Đại hội Đảng bộ cấp tỉnh khóa 2020 – 2025 ở 63 tỉnh thành, ông thường đại diện cho Trung ương Đảng tham gia các kỳ đại hội địa phương, chỉ đạo hoạt động cấp tỉnh.[24]

Bên cạnh đó, Phạm Minh Chính còn phụ trách vấn đề ngoại giao, bao gồm đại diện Trung ương Đảng sang thăm nước ngoài; tiếp đón một số lãnh đạo nước ngoài sang thăm Việt Nam. Đầu năm 2018, ông tới thủ phủ Bắc Kinh thăm Trung Quốc, gặp gỡ Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, Bí thư Ủy ban Kiểm Kỷ, lãnh đạo cấp quốc gia thứ sáu của Trung Quốc Triệu Lạc Tế, hội đàm với Thành ủy Bắc Kinh các vấn đề liên quan tới đối tác giữa hai nước.[25] Ông đã hai lần đón tiếp Thủ tướng Nhật BảnAbe Shinzō năm 2017 hai chiều trong và ngoài nước,[26][27] cùng với đón tiếp Suga Yoshihide năm 2020 sang thăm Việt Nam.[28]

Thủ tướng Chính phủ

Đầu năm 2021, Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIII diễn ra. Trước và trong kỳ đại hội, báo chí nước ngoài cho rằng Phạm Minh Chính có nhiều khả năng sẽ là Thủ tướng mới của Việt Nam sau Đại hội Đảng khóa XIII.[29][30][31] Giai đoạn cuối tháng 03, đầu tháng 04 năm 2021, sau Đại hội Đảng Cộng sản, Việt Nam tiếp tục các hoạt động cho chuỗi sự kiện Hội nghị hiệp thương của Mặt trận Tổ quốc, chuẩn bị cho Quốc hội khóa XV. Ngày 18 tháng 03 năm 2021, Phạm Minh Chính được giới thiệu tham gia khối ứng cử Đại biểu Quốc hội thuộc Chính phủ tại kỳ họp thứ hai của Hội nghị Hiệp thương, chuẩn bị vị trí công tác, nhiệm vụ mới ở Chính phủ Việt Nam khóa XV.[32]

Ngày 03 tháng 04 năm 2021, với thống nhất từ Trung ương Đảng Cộng sản, Phạm Minh Chính được đề cử làm Thủ tướng Chính phủ Việt Nam. Tại kỳ họp Quốc hội, với số phiếu 462/466, đạt tỷ lệ 96,25% chiếm đa số phiếu, ông được bầu làm Thủ tướng Việt Nam, và là Thủ tướng thứ tám của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.[33] Chiều ngày 05 tháng 04 năm 2021, lúc 16 giờ, ông tuyên thệ nhậm chức Thủ tướng, phát biểu về đường lối, định hướng lãnh đạo Chính phủ nhiệm kỳ mới tại Hội trường Ba Đình, thủ đô Hà Nội.[34]

Quan điểm

Trong sự nghiệp của mình, Phạm Minh Chính có nhiều bài phát biểu, thể hiện rõ quan điểm của mình trong lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Ông có quan điểm chống chạy chức, chạy quyền trong hệ thống tổ chức Đảng và Nhà nước.[35] Đối với kỳ đại hội đại biểu toàn quốc chuẩn bị cho Quốc hội Việt Nam khóa XV, ông đã nhiều lần phát biểu, nhấn mạnh phương án xây dựng nhân lực, Đại biểu Quốc hội. Ông kêu gọi việc không giới thiệu và đưa vào danh sách ứng cử người có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực;[36] có tư tưởng cục bộ, bảo thủ, trì trệ, đang bị thanh tra, kiểm tra dấu hiệu vi phạm; người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra vụ, việc tham nhũng, lãng phí, mất đoàn kết, những người vi phạm quy định của Bộ Chính trị hoặc có vấn đề về chính trị chưa được kết luận. Kiên quyết không để lọt những người không xứng đáng, những người chạy chức, chạy quyền tham gia Quốc hội.[37]

Đối với tổ chức Đảng, Phạm Minh Chính đề cao các vấn đề về bám sát Nghị quyết Trung ương 4, Nghị quyết Trung ương Đảng,[38] tích cực đổi mới phương thức lãnh đạo theo phương châm hướng về cơ sở để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; đưa hoạt động địa phương đi vào nền nếp; chủ động, tích cực hơn trong việc phối hợp với các cơ quan; tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng; coi trọng giáo dục lịch sử truyền thốn; tinh giản tổ chức bộ máy, biên chế; kiểm tra, giám sát các cấp ủy; thúc đẩy dân vận được tăng cường; phối hợp giữa đảng ủy với đảng đoàn; phát huy vai trò của các đoàn thể trong tham gia xây dựng Đảng, xây dựng cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh.[39] Ông cho rằng tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã được cải thiện, song “đây là vấn đề nhức nhối, còn tiếp tục, phải kiên trì, kiên quyết với nó hơn nữa”.[40]

Các công trình được công bố

  • "Quan hệ công chúng (PR) trong hoạt động kinh tế, khoa học công nghệ và môi trường". Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2010.
  • "Kinh tế Việt Nam: Thăng trầm và Đột phá" (đồng tác giả với Vương Quân Hoàng); Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009.[41]
  • "Bối cảnh tài chính Việt Nam 1997 – 1998 và 2007 – 2008: Khoảng cách và biến đối" (đồng tác giả với Vương Quân Hoàng). Nghiên cứu Kinh tế, Vol 48, Issue 7 (2008), 3-24.[42]

Gia đình

Phạm Minh Chính công tác và sinh sống tại thủ đô Hà Nội, vợ chồng ông có hai con, một con gái và một con trai. Em trai ông là Phạm Trí Thức, giữ chức Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIII, XIV. Ủy viên Ủy ban Pháp luật của Quốc hội khóa XIII, XIV.[43] Em gái ông là Phạm Thị Thanh, Vụ trưởng Vụ Nội chính (Vụ 4), Văn phòng Chính phủ.[44]

Lịch sử thụ phong cấp hàm

Năm thụ phong 2007 2010
Cấp hiệu Cấp hiệu Thiếu tướng Công an.png Cấp hiệu Trung tướng Công an.png
Tên cấp hiệu Thiếu tướng Trung tướng

Khen thưởng

Phạm Minh Chính được trao những giải thưởng, huân huy chương sau:[45]

Tham khảo

Ghi chú

  1. ^ Trường Phổ thông Cẩm Thủy 3 thành lập năm 1963, nay là Trường Trung học phổ thông Cẩm Thủy 1.
  2. ^ Hình thành từ Trường Bổ túc Ngoại ngữ thành lập năm 1959, được đổi tên thành Đại học Ngoại ngữ Hà Nội năm 1967 và đổi tên thành Trường Đại học Hà Nội từ năm 2006 cho đến nay.
  3. ^ Bộ Nội vụ thời kỳ 1975 – 1998 được hợp nhất giữa công an và nội vụ, đến năm 1998 được tách ra thành hai bộ. Phạm Minh Chính công tác thuộc lĩnh vực công an trong Bộ Nội vụ.
  4. ^ Hội đồng bầu cử Quốc gia năm 2016, Danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 14 năm 2016 ở 63 tỉnh thành.

Chú thích

  1. ^ . Tư liệu văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam. lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2021.
  2. ^ . Vietnamnet. lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2021.
  3. ^ . Cấp 3 Cẩm Thủy. lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2021.
  4. ^ Minh Thư (ngày 7 tháng 2 năm 2016). . Viromas. lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2021.
  5. ^ a ă . Xây dựng Đảng. ngày 6 tháng 2 năm 2016. lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2021.
  6. ^ . VTC. ngày 5 tháng 2 năm 2016. lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2021.
  7. ^ Quyết định Số: 496/QĐ-TTg, ngày 25 tháng 04 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ.
  8. ^ . Đại hội Đảng. lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2021.
  9. ^ Công Gôn - Việt Hưng (14 tháng 8 năm 2010). (bằng tiếng Việt). Báo Công an nhân dân điện tử - CAND Online. lưu trữ ngày 14 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2010.
  10. ^ Nhóm phóng viên (18 tháng 1 năm 2011). . VnExpress. lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2017.
  11. ^ Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam (13 tháng 7 năm 2011). . Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2011.
  12. ^ . Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh. lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2021.
  13. ^ . Báo Quảng Ninh. ngày 29 tháng 3 năm 2021. lưu trữ ngày 5 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2021.
  14. ^ . Cổng thông tin Quốc hội. ngày 9 tháng 6 năm 2016. lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2021.
  15. ^ . Tư liệu văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam. lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2020.
  16. ^ Nguyên Vũ (ngày 28 tháng 1 năm 2016). . VNeconomy. lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2021.
  17. ^ . Báo Nhân dân. lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2021.
  18. ^ (bằng tiếng Việt). VnExpress. 28 tháng 1 năm 2016. lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2021. Truy cập 28 tháng 1 năm 2016.
  19. ^ Minh Thư (ngày 5 tháng 2 năm 2016). . Vietnamnet. lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2021.
  20. ^ . VTV. ngày 30 tháng 1 năm 2021. lưu trữ ngày 30 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2021.
  21. ^ . Báo Tuổi trẻ. ngày 31 tháng 1 năm 2021. lưu trữ ngày 31 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2021.
  22. ^ . VTV. ngày 8 tháng 4 năm 2021. lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2021.
  23. ^ . Xây dựng Đảng. ngày 6 tháng 2 năm 2016. lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2021.
  24. ^ Đinh Thành (ngày 14 tháng 10 năm 2020). . Xây dựng Đảng. lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2021.
  25. ^ Hà Thắng (ngày 25 tháng 1 năm 2018). . VOV. lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2021.
  26. ^ . Kantei Japan. ngày 17 tháng 1 năm 2017. lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2021.
  27. ^ . Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản. lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2021.
  28. ^ . VOV. ngày 19 tháng 10 năm 2020. lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2021.
  29. ^ . FULCRUM. Truy cập 24 tháng 1 năm 2021.
  30. ^
  31. ^ . Truy cập 24 tháng 1 năm 2021.
  32. ^ Trần Kiều. . Báo Lao động. lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2021.
  33. ^ . VTV. ngày 5 tháng 4 năm 2021. lưu trữ ngày 5 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2021.
  34. ^ Ngọc Thành, Hoàng Lê, Vân Anh (ngày 5 tháng 4 năm 2021). . VOV. lưu trữ ngày 5 tháng 4 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2021.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  35. ^ Thế Dũng (ngày 21 tháng 1 năm 2021). . Người lao động. lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2021.
  36. ^ . Tạp chí Tổ chức Nhà nước. ngày 5 tháng 2 năm 2021. lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2021.
  37. ^ Lê Hiệp (ngày 21 tháng 1 năm 2021). . Báo Thanh niên. lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2021.
  38. ^ . Tạp chí Xây dựng Đảng. ngày 26 tháng 1 năm 2019. lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2021.
  39. ^ . Đảng ủy khối cơ quan Trung ương. ngày 17 tháng 1 năm 2019. lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2021.
  40. ^ Lê Hiệp (ngày 28 tháng 3 năm 2021). . Báo Thanh niên. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2021.
  41. ^ Chính, Phạm Minh; Hoàng, Vương Quân (27 tháng 5 năm 2009). . Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật.
  42. ^ . Repec. lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2021.
  43. ^ Trung tâm Tin học - Văn phòng Quốc hội. . TRANG TIN ĐIỆN TỬ QUỐC HỘI VIỆT NAM. lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2011.
  44. ^ Minh Phương (ngày 20 tháng 10 năm 2009). . Cổng thông tin Chính phủ. lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2021.
  45. ^ A.Hiếu (18 tháng 7 năm 2010). (bằng tiếng Việt). Báo Công an nhân dân điện tử - CAND Online. lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2010.

Liên kết ngoài

  • Website .
  • .
  • tại Website Quốc hội Việt Nam.
  • Bản điện tử tại trang Văn bản Chính phủ.
  • tại Tư liệu Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam.